BMSC

http://bmsc.com.vn


KSP: Việt Nam nên thành lập một cơ quan quản lý đầu tư công

Để giải quyết tình trạng đầu tư công không hiệu quả và lãng phí tại Việt Nam, các chuyên gia Hàn Quốc, thông qua Chương trình KSP, đề xuất Việt Nam cần thành lập một cơ quan trung ương quản lý đầu tư công.
 Đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm Việt Nam - Hàn Quốc.
Đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm Việt Nam - Hàn Quốc.

Để giải quyết tình trạng đầu tư công không hiệu quả và lãng phí tại Việt Nam, các chuyên gia Hàn Quốc, thông qua Chương trình KSP, đề xuất Việt Nam cần thành lập một cơ quan trung ương quản lý đầu tư công.

Cơ quan này có thể trực thuộc Văn phòng Chính phủ, hoặc cơ quan ra quyết định ngân sách nhằm nâng cao tính nhát quán và độc lập của công tác đánh giá.

Đây là một trong những đề xuất quan trọng mà phía Hàn Quốc đưa ra nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam tại buổi đối thoại chính sách cấp cao Chia sẻ tri thức Việt Nam – Hàn Quốc vừa được tổ chức tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương cùng TS. Dae Hee Yoon, Nguyên Bộ trưởng Bộ Điều phối Chính sách Chính phủ Hàn Quốc chủ trì buổi đối thoại. Tham gia đối thoại còn có GS. Sang Woo Nam, Hiệu trưởng Trường Quản lý và Chính sách công thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc, Quản đốc của Chương trình Chia sẻ tri thức Việt Nam – Hàn Quốc (KSP).

Việt Nam thiếu hệ thống đánh giá đầu tư công

Nhấn mạnh điều này tại bản báo cáo của mình, GS. Sang Woo Nam cho biết, mặc dù có khá nhiều sự đầu tư cho cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song nhu cầu đầu tư còn rất lớn. Đáng chú ý là hiệu quả thấp của các khoản đầu tư cho thấy, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế Việt nam không thực sự ấn tượng nếu xét về tỷ lệ đầu tư cao.  

Mối lo ngại này có vẻ đặc biệt nghiêm trọng đối với khu vực nhà nước, bao gồm cả các doanh nghiệp quốc doanh.

Vấn nạn đầu tư công dàn trải, không hiệu quả đã diễn ra tại Việt Nam thời gian qua, nguyên nhân được các chuyên gia Hàn Quốc chỉ ra là do, quản lý đầu tư công của Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt do thiếu hệ thống đánh giá đầu tư công và thiếu sự kết nối giữa quản lý đầu tư công và quản lý tài chính công.  

Hơn nữa, xét về góc độ pháp lý, việc thiếu các khung khổ dưới luật hoặc các cơ chế cụ thể vẫn gây ra những khác biệt không thể tránh khỏi giữa các khung khổ pháp lý và việc thực hiện trên thực tế đánh giá theo các chu kỳ dự án công.

Vì thế, “Việt Nam cần có một hệ thống đánh giá thống nhất vận hành thỏa đáng theo các chu kỳ dự án”, GS. Sang Woo Nam cho biết.

Bởi, thực tế khi hệ thống đánh giá tiền khả thi của dự án đã và đang vận hành, thì các hệ thống đánh giá trong và sau khi thực hiện dự án lại không vận hành thỏa đáng. Vì vậy, mặc dù dự án đầu tư thực sự không hiệu quả nhưng không có cơ chế phát hiện và phản hồi trở lại với quyết định ngân sách trong hệ thống đánh giá sau khi thực hiện dự án.

Với những bất cập như vậy, Hàn Quốc đề xuất Việt Nam nên tăng cường cơ chế quản lý trung gian như thực hiện cơ chế đánh giá giữa kỳ và đồng thời việc đánh giá sau khi thực hiện dự án cũng cần được thực hiện chi tiết hơn và mang tính bắt buộc.

“Điều này nhằm thiết lập một hệ thống đánh giá hiệu quả và bền vững xét về tổng thể, và đảm bảo sự kết nối đối với các quyết định ngân sách”, vị quản đốc Chương trình KPS khẳng định.

Riêng về vấn đề pháp lý, theo GS. Sang Woo Nam, Việt Nam cần tăng cường chức năng trung tâm của quản lý đầu tư công và đảm bảo chức năng độc lập của cơ chế quản lý này nhằm nâng cao tính minh bạch và khách quan của quản lý đầu tư công.

Không giống với trường hợp của các nước phát triển, chỉ quan tâm đến tính độc lập của việc đánh giá dự án mà không quan trọng cơ quan nào đảm trách đánh giá, Việt Nam nên thành lập một cơ quan thường trực trung ương chịu trách nhiệm về quản lý đầu tư công thuộc Văn phòng Chính phủ và Chính phủ cần ban hành quy định yêu cầu đánh giá độc lập.

Với việc phân cấp vai trò đánh giá, KPS cũng khuyến nghị, Chính phủ Việt Nam có thể tham khảo quy trình đánh giá cửa ngõ của Anh.

Về khía cạnh kỹ thuật, phía Hàn Quốc cho rằng, VIệt Nam nên đưa ra một tập hợp các hướng dẫn vận hành, các hướng dẫn chung và các hướng dẫn cụ thể theo ngành/lĩnh vực chi tiết.

Cơ chế cấp vốn cho dự án đô thị mới

Tại buổi Đối thoại, một vấn đề khác cũng được đề cập đó là cơ chế cấp vốn cho dự án đô thị mới.

Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, nước này đã áp dụng 4 mô hình tài chính hiệu quả gồm:

(1) Cấp vốn từ ngân sách và thành lập các công ty phục vụ cho các mục đích đặc biệt, cơ chế này được thiết lập ngay sau khủng hoảng kinh tế châu Á;

(2) Quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REIT) được xem như một dạng quỹ tương hỗ có khả năng tạo ra luồng tài chính tiềm năng cho thị trường bất động sản.

(3) Cơ chế trao đổi đất, mới được nội các Hàn Quốc phê chuẩn vào tháng 12/2012. Theo đó, cho phép chủ sở hữu coi đất đai là phần góp vốn vào các dự án đầu tư, dưới hình thức này, chủ sở hữu vừa đóng góp cho các dự án phát triển đô thị của quốc gia, vừa được hưởng lợi từ các dự án này khi đưa vào sử dụng.

(4) Hình thức cho vay thế chấp bất động sản và chứng khoán hóa các khoản vay này. Hình thức này hiện vẫn chưa được sử dụng tại Việt Nam. Trong khi đây là một cơ chế được xem là hấp dẫn đối với thị trường tài chính toàn cầu và trong nước.

Bên cạnh đó, một hình thức đầu tư khác cũng rất hấp dẫn và được nhiều quốc gia ứng dụng nhằm cung cấp nguồn vốn cần thiết cho nhu cầu đầu tư ngày càng tăng là hình thức hợp tác công tư (PPP). Thông qua hình thức này, khu vực tư nhân có thể tham gia chia sẻ lợi ích và rủi ro với Nhà nước trong việc phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, trước giờ vẫn được xem là trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Nhà nước.

Các chuyên gia Hàn Quốc đề xuất, Việt Nam nên xem xét và sử dụng linh hoạt các mô hình tài chính cấp vốn trên để đảm bảo nhu cầu cấp vốn thiết yếu, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thị trường bất động sản đang bị “bất động” thời gian qua.

Thiếu số liệu khó dự báo cung – cầu lao động

Tại bản nghiên cứu của mình, các chuyên gia của Chương trình KPS còn cho biết, những bất cập trong dự báo cầu và cung lao động của VIệt Nam trước hết là do nguồn số liệu. Việt Nam không có các số liệu điều tra vi mô, tức là một cuộc điều tra về cá nhân con người.

Thêm vào đó, số liệu hiện có của Việt Nam để phục vụ dự báo lao động là số liệu tổng hợp từ hai cuộc tổng điều tra năm 2009 và 2011. Điều đó có nghĩa là những số liệu này không nhất quán ở chừng mực nhất định để phục vụ công tác dự báo do đặc trưng của số liệu tổng hợp.

“Do vậy, hàng năm cần tiến hành một cuộc điều tra lực lượng lao động của Việt Nam để bảo đảm dự báo chính xác giống như các nước khác đã làm để phục vụ công tác dự báo”, chuyên gia Hàn Quốc đề xuất.

Điều tra tại Việt Nam cho thấy có rất nhiều các trung tâm việc làm ở khắp cả nước nhưng không có một đầu mối trung ương chịu trách nhiệm toàn quốc về việc làm. Do vậy, giống như Hàn Quốc, Việt Nam cần thành lập một cơ quan trung ương có chức năng về quản lý toàn quốc về việc làm và đảm nhiệm mạng lưới về bảo hiểm việc làm và thất nghiệp trên toàn quốc. 

Chương trình KSP được Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc thực hiện từ năm 2004 và đến nay các chương trình này đã được triển khai tại 33 quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, KSP được triển khai từ năm 2004 và đã nâng lên thành “quốc gia đối tác phát triển mang tính chiến lược” vào năm 2009. KSP hướng tới mục tiêu hỗ trợ cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế và các nỗ lực tái cơ cấu thể chế của các nước đối tác phát triển thông qua chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc. 

 

 

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây