Theo mạng tin "Project syndicate" ngày 28/2, các chính sách tài chính và tiền tệ hiện nay của Mỹ là không bền vững. Nợ ròng của chính phủ Mỹ tính theo GDP đã tăng gấp đôi trong 5 năm qua và tiếp tục tăng trong thập kỷ tới cho dù kinh tế Mỹ có hoàn toàn phục hồi và lãi suất quay trở lại mức bình thường.
Một dân số Mỹ lão hóa sẽ khiến các khoản phúc lợi xã hội tăng nhanh chóng, khiến nợ chính phủ tăng lên hơn 100% GDP. Mặc dù Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và các chủ nợ nước ngoài như Trung Quốc hiện đang tài trợ cho mức tăng nợ này, nhưng mong muốn tài trợ của họ không phải là vô hạn.
Tương tự như vậy, chính sách mua tài sản quy mô lớn của Fed đang làm tăng dự trữ của các NHTM lên mức chưa từng thấy là gần 2.000 tỷ USD và khiến lãi suất thực của trái phiếu kho bạc Mỹ thời hạn 10 năm bị âm. Như Fed đã thừa nhận, điều này sẽ phải dừng lại và đảo ngược.
Mặc dù diễn biến tương lai của những mất cân bằng này vẫn chưa rõ ràng, kết quả cuối cùng sẽ là việc lãi suất dài hạn tăng và giá trị đồng USD sụt giảm mạnh, chủ yếu do các nhà đầu tư nước ngoài không muốn tiếp tục tăng mua nợ của Mỹ. Các nhà đầu tư Mỹ có thể đóng góp vào những thay đổi này bằng việc tìm cách chuyển danh mục đầu tư của họ sang tài sản của các nước khác.
Hai luận cứ cho rằng USD là đồng tiền dự trữ của thế giới và đồng tiền này ít rủi ro hơn các đồng nội tệ khác đều không thuyết phục. Thứ nhất, việc quy chế đồng tiền dự trữ không còn có thể bảo vệ đồng USD. Mặc dù các chính phủ khắp thế giới vẫn cần giữ đồng USD làm dự trữ ngoại tệ, nhưng vấn đề là việc nắm giữ chứng khoán đồng USD không còn là "dự trữ ngoại tệ" chủ yếu theo truyền thống.
| Đồng USD không còn là một "đặc quyền cắt cổ" |
Trong những thập kỷ trước, các nước giữ đồng USD bởi vì họ cần một đồng ngoại tệ được nhiều nước chấp nhận để xử lý vấn đề nhập siêu. Ứng cử viên rõ ràng cho quỹ dự trữ này là trái phiếu kho bạc Mỹ. Nhưng từ cuối những năm 1990, nhiều quốc gia và lãnh thổ khu vực châu Á, như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore đã tích tụ được lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn, trên 200 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc là hơn 3.000 tỷ USD, nên các quỹ dự trữ trở nên không cần thiết. Dự trữ ngoại tệ trở thành tài sản quốc gia lớn cần được đầu tư với rủi ro ít và lợi nhuận cao.
Nói tóm lại, đồng USD không còn là một "đặc quyền cắt cổ", theo lời cựu Bộ trưởng Tài chính Pháp những năm 1960 Valéry Giscard d’Estaing, bắt nguồn từ việc đồng USD là đồng tiền dự trữ hợp pháp.
Một số người lại cho rằng, dù đồng USD không còn được bảo vệ do là đồng tiền dự trữ, đồng tiền này vẫn an toàn hơn các đồng nội tệ khác. Nếu các nhà đầu tư không muốn nắm giữ đồng euro, đồng bảng Anh hay đồng yên Nhật Bản, họ có thể giữ đồng nội tệ nào?
Luận cứ này cũng sai. Các nhà đầu tư lớn không bao giờ đặt toàn bộ quỹ đầu tư của họ vào một đồng nội tệ duy nhất. Họ đa dạng hóa danh mục đầu tư vào nhiều đồng nội tệ khác nhau và nhiều kiểu tài sản tài chính khác nhau. Nếu họ cho rằng đồng USD và trái phiếu bằng đồng USD trở nên rủi ro hơn nên họ sẽ đa dạng hóa tài sản trong danh mục đầu tư. Do vậy, dù đồng USD vẫn được coi là tài sản an toàn nhất, nhu cầu đối với đồng USD sẽ giảm nếu độ an toàn tương đối của nó bị coi là giảm.
Việc các chủ nợ nước ngoài nắm trái phiếu đồng USD quan ngại rằng tình hình bất ổn tại Mỹ có thể dẫn đến lãi suất cao hơn và một đồng USD yếu hơn, họ sẽ bán trái phiếu đồng USD. Nếu tâm lý này lan rộng, giá trị của đồng USD và trái phiếu đồng USD có thể cùng giảm mà không cần có sự thay đổi ròng trong việc nắm giữ số tài sản này.
Giá trị thương mại thực tế của đồng USD đã giảm hơn 25% trong thập kỷ qua, bất chấp những khó khăn kinh tế tại châu Âu và các nước khác. Và dù có một tỷ giá hối đoái cạnh tranh hơn, Mỹ vẫn tiếp tục bị thâm hụt tài khoản vãng lai lớn. Nếu những nỗ lực nhằm giảm những mất cân bằng tài chính và hạn chế mức tăng dự trữ ngân hàng không thành công, việc giảm nhu cầu đối với giá trị bằng đồng USD có thể khiến đồng USD giảm giá nhanh hơn và lợi tức đối với chứng khoán đồng USD tăng lên.
Báo cáo mới nhất của Bộ Thương mại Mỹ cho biết, trong 3 tháng cuối cùng của năm 2012, GDP của Mỹ tăng 0,1%, thay vì -0,1% như thông báo cách đây một tháng. Tốc độ tăng trưởng này chậm hơn nhiều so với mức dự kiến 0,5% của các chuyên gia. Đây là tốc độ tăng GDP chậm nhất ở Mỹ trong gần hai năm kể từ quý I/2011. Như vậy, tốc độ tăng GDP của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 4 quý của năm 2012 lần lượt đạt 2,0%, 1,3%, 3,1% và 0,1%.
Tính chung cả năm, tốc độ tăng GDP của Mỹ đạt khoảng 2,3%, cao hơn mức tăng 1,8% trong năm 2011. Kết quả này chứng tỏ nền kinh tế Mỹ vẫn đang trên đà phục hồi từ hậu quả của cuộc đại suy thoái 2007-2009, nhưng chưa thật ổn định.
Theo Bộ Thương mại Mỹ, hai nguyên nhân chính làm giảm tốc độ tăng GDP trong quý IV/2012 là do chi tiêu của chính phủ giảm và hàng tồn kho của các công ty cao. Chi tiêu của người tiêu dùng, nhân tố đóng góp 2/3 vào guồng máy kinh tế Mỹ, trong quý cuối cùng của năm 2012 tăng 2,1%. Kim ngạch nhập khẩu trong quý giảm 4,5% trong khi xuất khẩu tăng và hoạt động xây dựng nhà ở tăng 17,5% cũng là các yếu tố giúp nền kinh tế mở rộng nhanh hơn.
Với đà trên, kinh tế trưởng của công ty Capital Economics, Paul Ashworth và T. Rowe Price dự báo tốc độ tăng GDP của Mỹ trong quý đầu của năm 2013 có thể đạt từ 2,0% đến 2,5%. Tuy nhiên, Nhà Trắng và nhiều bộ ngành của Mỹ đều đã lên tiếng cảnh báo về khả năng đà phục hồi của kinh tế Mỹ sẽ bị chậm lại, nếu ngân sách liên bang tài khóa 2013 bị tự động cắt giảm 85 tỷ USD do tình trạng bế tắc kéo dài giữa Nhà Trắng và Quốc hội xung quanh các chính sách tài chính và thuế má sẽ làm giảm 0,6% tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ trong năm 2013 này.
Mới đây, Chủ tịch FED Ben Bernanke đã tuyên bố, FED vẫn sẽ tiếp tục triển khai chương trình mua lại trái phiếu trị giá 85 tỷ USD mỗi tháng và chính sách lãi suất thấp để kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều này cũng khiến cho giá trị đồng USD sụt giảm.