![]() |
| Ông Phạm Viết Muôn |
Trên 300 NĐT tổ chức trong nước và quốc tế đã đến dự Hội nghị mang tên Gateway to Vietnam do CTCK Sài Gòn (SSI) tổ chức ngày 1/12 vừa qua. Một trong những vấn đề được các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp quan tâm là cơ hội tham gia mua cổ phần của DNNN Việt Nam khi cổ phần hóa (CPH).
Ông Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN cho biết, cả nước còn 1.500 DNNN cần phải CPH và từ nay đến năm 2015, Chính phủ dự kiến CPH khoảng 1.000 DNNN, trong đó có hàng trăm DN quy mô lớn. Theo ông Muôn, phương thức CPH sẽ thay đổi, trong đó đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của NĐT chiến lược, để tạo điều kiện thuận lợi cho DN tìm các đối tác này. Cũng theo ông Muôn, trong số 4.000 DNNN đã được CPH và chuyển đổi hình thức hoạt động tính đến thời điểm này mới chỉ có 2 DN tìm được NĐT chiến lược, đó là Tổng CTCP Bảo hiểm Bảo Việt (với sự tham gia của HSBC) và Tổng công ty Habeco (với sự tham gia của Carberg).
ĐTCK xin giới thiệu những nội dung chính trong cuộc trao đổi giữa ông Muôn với các NĐT quốc tế.
Một trong những vấn đề nổi cộm khiến tiến trình CPH DNNN, nhất là DNNN lớn, diễn ra không suôn sẻ, không trọn vẹn là các DN này không tìm được NĐT chiến lược. Đâu là lý do chính, thưa ông?
Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, nhưng theo tôi, lý do chính là chúng ta chưa có kinh nghiệm tìm kiếm NĐT chiến lược. Các văn bản pháp lý điều tiết việc CPH DNNN đã được thay đổi 5 lần (từ Nghị định 28, đến Nghị định 44, Nghị định 64, Nghị định 87 và nay là Nghị định 109), nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Bất cập lớn nhất là về giá bán. Mình muốn NĐT chiến lược mua lượng lớn cổ phần, nắm giữ lâu dài và hỗ trợ DN phát triển, nhưng giá bán, theo quy định hiện hành, lại không được thấp hơn giá đấu bình quân ra công chúng. Đây là một điểm không hợp lý.
Vậy hướng sửa đổi quy định này sẽ như thế nào, thưa ông?
Chính phủ đang tiến hành sửa đổi Nghị định 109/2007/NĐ-CP. Theo đó, việc CPH sẽ theo phương thức mới như sau: DN tiến hành đàm phán bán cho NĐT chiến lược trước, sau đó sẽ bán cho CBCNV, rồi chuyển thành CTCP. Sau khi hoạt động theo hình thức CTCP, DN mới tiến hành bán cổ phần ra công chúng. Đặc biệt, việc đàm phán bán cổ phần cho NĐT chiến lược sẽ theo nguyên tắc thỏa thuận, dựa trên những yêu cầu của cả 2 bên.
Chính phủ sẽ làm gì để hạn chế sự bất bình đẳng, sự không minh bạch trong quá trình cổ phần hóa DNNN?
Nhà nước sẽ không can thiệp vào quá trình định giá, đấu giá DN, mà việc này được tiến hành công khai theo các nguyên tắc của thị trường. Thậm chí, để việc định giá DN được chuẩn xác, khách quan, trong quá trình xây dựng phương án CPH các DNNN lớn như: TCT Thép Việt Nam, TCT Hàng không Việt Nam, Ngân hàng BIDV…, Chính phủ yêu cầu phải thuê tư vấn quốc tế. Bởi vậy, việc tiến hành CPH, IPO các DNNN diễn ra công bằng, minh bạch, tạo cơ hội đầu tư bình đẳng cho các NĐT. Với cơ chế hiện nay, NĐT nếu muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư, họ có thể hoàn toàn chủ động đến DN tìm hiểu, nắm bắt các hoạt động sản xuất - kinh doanh trước khi ra quyết định đầu tư.
Thặng dư vốn cổ phần khi DNNN CPH là vấn đề thiết thực đối với DN và các NĐT góp vốn. Nhưng các quy định hiện hành lại chưa rõ ràng, mà NĐT ngại nhất là sự bất nhất trong chính sách sử dụng khoản tiền này, thưa ông?
Về nguyên tắc, phần vốn thặng dư là của Nhà nước, nên phải nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN. Tuy nhiên, tuỳ trường hợp cụ thể mà Nhà nước có thể để lại DN với mục đích tăng phần vốn nhà nước tại DN, hoặc để đầu tư vào các dự án cụ thể của DN. Nhà nước cũng có thể xem xét để lại phần vốn thặng dư tại DN nhằm khuyến khích, tăng nguồn lực cho DN. Trên thực tế, những trường hợp như trên đã được áp dụng.
4.000 DN đã hoàn thành CPH và chuyển đổi hình thức hoạt động là một thành tích, nhưng nếu so với lộ trình đổi mới DNNN mà Chính phủ Việt Nam đưa ra thì vẫn còn khá chậm. Tại sao vậy, thưa ông?
Việt Nam chủ trương không CPH DNNN bằng mọi giá, mà việc này phải được tiến hành vững chắc, đạt hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội. Việc tiến hành CPH sẽ tiếp tục được tiến hành thận trọng trong thời gian tới. Chính phủ đưa ra lộ trình CPH DNNN, nhưng lộ trình này lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Ngoài những yếu tố nội tại, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự quan tâm của các NĐT quốc tế vào tiến trình CPH DNNN. Chẳng hạn, khi chuẩn bị cho việc CPH Ngân hàng Công thương Việt Nam, chúng tôi đã đến Mỹ gặp JP Morgan để tìm sự quan tâm của tổ chức này. Tuy nhiên, họ nói thẳng, khủng hoảng kinh tế đã khiến họ hao hụt tiền, không còn tiền để đầu tư, mà nếu còn tiền mặt lúc đó cũng sẽ không đầu tư, vì không rõ đầu tư như vậy có hiệu quả hay không.
Như ông nói thì sẽ có những thay đổi lớn trong trong chính sách CPH DNNN. Nhưng trong quá trình chờ chính sách ban hành, việc CPH DNNN sẽ được thực hiện như thế nào, liệu có được áp dụng quy trình mới hay không?
Trong khi chờ Chính phủ sửa đổi Nghị định 109, các DNNN có thể thực hiện cổ phần hóa thí điểm theo hình thức mới. Về thể chế đầu tư, tôi cho rằng, Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết khi gia nhập WTO và là một trong những nước có môi trường đầu tư được sửa đổi, bổ sung thường xuyên để thích ứng nhu cầu hội nhập. Chúng tôi mong rằng, với những nỗ lực này, các NĐT quốc tế sẽ không chỉ dừng ở sự quan tâm đến Việt Nam, mà còn thực sự đầu tư vào DN Việt Nam để góp sức mang lại sự phồn vinh cho DN, cho nền kinh tế.