Loanh quanh vùng giá trị thấp
Hai thập kỷ qua, Việt Nam đã chuyển đổi từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc là chủ yếu thành một nền kinh tế hướng ngoại đã góp phần giúp kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định với tốc độ trung bình đạt 7,3% mỗi năm trong hơn 2 thập kỷ, từ năm 1991 tới năm 2012, chỉ sau Trung Quốc và trở thành một trong những đích đến của đầu tư nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, theo ông Grayson Clarke, đó là “những quả cành thấp” được Việt Nam khai thác bằng tiềm năng kinh tế và công nghiệp tự nhiên và khả năng sáng tạo của người dân.
“Nói cách khác, thành công là do không cấm dân làm ăn, kinh doanh, mà cho phép họ thành lập doanh nghiệp tư nhân, định giá tự do cho hầu hết các sản phẩm và dịch vụ và cho phép họ để lại lợi nhuận, trao đổi ngoại hối và thu hút đầu tư vào đất nước”, ông Grayson Clarke nói.
Ví dụ cụ thể được ông Grayson Clarke đưa ra để minh chứng cho việc nhiều “quả cành thấp” đã bị hái hết hoặc biến mất là lợi tức mang tính dân số. Với tỷ lệ sinh giảm và tỷ lệ dân số trên 60 tuổi đang tăng nhanh, xu thế di cư mạnh mẽ, tinh thần thay đổi thì lợi tức mang tính dân số đã không còn.
Sự giảm sút chất lượng chung và khả năng tiếp cận các dịch vụ công, như y tế và giáo dục, khiến người dân phải tiết kiệm dự phòng nhiều hơn, vì vậy ảnh hưởng tới mức tiêu dùng trong nước và làm cho chất lượng cung cấp lao động kém đi.
Năng suất lao động tăng nhanh ở khu vực tư nhân nhưng lại giảm đi ở khu vực doanh nghiệp nhà nước. Năm 2010, chênh lệch về năng suất lao động trên một đơn vị vốn giữa khu vực tư nhân và khu vực doanh nghiệp nhà nước là 20 lần.
Hơn nữa, tình hình kinh tế quốc tế cũng suy giảm mạnh mẽ, các thị trường truyền thống của Việt Nam ở châu Âu và Mỹ lại bị sa lầy trong suy thoái. Trong khi đó, tiêu dùng trong nước đi ngang cũng làm cho thất nghiệp gia tăng, tỷ lệ tiết kiệm tăng…
Nhận định “quả cành thấp đã hết” của vị chuyên gia này cũng được minh chứng trên thực tế 5 năm trở lại đây, sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, 5 năm sau khi gia nhập WTO, cơ cấu GDP chuyển dịch không rõ nét và không theo xu hướng từ nông, lâm, thủy sản (NLT) sang công nghiệp xây dựng (CNXD) và dịch vụ như đã đặt ra trong Kế hoạch 2006-2010.
Đến năm 2011, tỷ trọng khu vực NLT tăng 1,7 điểm phần trăm so với năm 2007, trong khi đó hai khu vực CNXD và dịch vụ đều giảm xuống tương ứng là 1,2 điểm phần trăm và 0,5 điểm phần trăm. Chỉ tiêu kế hoạch NLT chiếm 15-16% GDP, CNXD 43-44% và dịch vụ 40-41% vào năm 2010 đã không đạt được.
Đặc biệt, “tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ Việt Nam đã hầu như không thay đổi (trong vòng 10 năm qua) và thấp hơn nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (như Singapore, Philippines, Thái Lan, Malaysia và Indonesia) và của nhiều nền kinh tế đang phát triển ngay cả khi được tính toán theo chuẩn quốc tế bao gồm cả ngành xây dựng (43,6% năm 2011)”, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích.
Năm 2008, tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ của nhóm nước có mức thu nhập trung bình là 53%, còn của nhóm nước có mức thu nhập trung bình cao lên đến 61%. Ngay cả nhóm nước có mức thu nhập thấp, kém phát triển nhất, thì tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ cũng lên đến 46% (năm 2007).
Tính toán theo thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế - năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cho thấy, chất lượng tăng trưởng giảm sút sau khi gia nhập WTO. Đặc biệt trong giai đoạn 2007-2010, hiệu quả tăng trưởng kinh tế suy giảm mạnh, khi TFP chỉ đóng góp 0,4 điểm phần trăm cho tăng trưởng so với con số 2,6 điểm phần trăm bình quân hàng năm trong giai đoạn 5 năm trước WTO.
Năng suất lao động (NSLĐ) ở Việt Nam tăng chậm và trong 5 năm sau WTO lại tăng thấp hơn nhiều so với 5 năm trước WTO (3,4% so với 5%). NSLĐ của Việt Nam năm 2010 chỉ bằng 13,2% của Nhật Bản, 23,3% của Malaysia, 12% của Singapore, 13,3% của Hàn Quốc, 46,5% của Trung Quốc, 37% của Thái Lan và 69,9% của Philippines.
Như vậy, “quả” thu được sau 5 năm gia nhập WTO là hầu hết các ngành có mức tăng trưởng vốn đầu tư cao so với mức tăng trưởng chung đều có đóng góp đáng kể của khu vực FDI và khu vực kinh tế ngoài Nhà nước. Chưa kể cơ cấu đầu tư toàn xã hội còn chuyển dịch chậm, tập trung khá nhiều vào những ngành nghề sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, xuất khẩu sản phẩm thô, có kỹ thuật, công nghệ.
Để có thể “hái quả cành cao”?
Ông Grayson Clarke khuyến nghị Việt Nam nên đa dạng hóa hàng xuất khẩu của mình và tăng tiêu dùng nội địa; Chính phủ nên chuyển chương trình cải cách từ không cấm công dân sản xuất, kinh doanh sang khuyến khích người dân phát triển kinh doanh; làm rõ các mục tiêu cải cách, nhấn mạnh vào cải cách vừa như là “một chặng đường”, lại vừa như là “đích đến”.
Trước đó, tại Hội nghị Mùa xuân của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), diễn ra từ 17-18/4/2013 tại Washington (Hoa Kỳ) vừa qua, ông Mark Gillin - Phó chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) lo ngại: “Việt Nam có thể sẽ bị kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”.
Kinh nghiệm thoát bẫy của các quốc gia đã từng bước qua chặng đường này cho thấy, phát triển phải hình thành nhờ nâng cao chất lượng vốn con người hơn là nhờ may mắn vì có được nguồn tài nguyên thiên nhiên hay có lợi thế vị trí địa lý để dễ dàng tiếp nhận hỗ trợ và đầu tư nước ngoài.
Việc phụ thuộc vào những lợi thế không tự mình tạo ra, quốc gia có thể tăng trưởng đến mức thu nhập thấp, trung bình với một chút nỗ lực. Nhưng, cuối cùng sẽ bị mắc kẹt ở mức thu nhập đó nếu không xây dựng được ý thức quốc gia và những thể chế để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Vị đại diện của AmCham khuyến nghị, Việt Nam cần phải thực hiện quá trình cải cách thật sự. Thời gian qua có nhiều kiến nghị từ các tổ chức quốc tế về xúc tiến đầu tư và chiến lược cạnh tranh cho Việt Nam, nhưng những phản hồi cho những kiến nghị này cũng chưa tích cực lắm. Hoặc là vẫn loay hoay chưa biết thực hiện chiến lược này thế nào. Thậm chí thiếu quyết tâm trong việc thực hiện…
Nguy cơ này không chỉ đem đến cho Việt Nam sự thất bại trong quá trình tiến lên là quốc gia có thu nhập người dân đạt mức trung bình, “sản xuất hiện đại” mà còn cho thấy rằng không có khả năng cạnh tranh ngay cả trong vai trò “nhà máy đối tác” sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dư thấp so với những thị trường mới nổi lên và sản phẩm cơ bản.
Ông Mark Gillin nhấn mạnh, để có thể duy trì tham vọng là quốc gia có thu nhập cao trong thập niên mới, Việt Nam cần có chính sách cải cách táo bạo như đã thực hiện trong thời kỳ Đổi mới. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, cả Chính phủ và các vị lãnh đạo doanh nghiệp, cần lãnh đạo công cuộc này.
Do vậy, Việt Nam là cần tiếp tục kiên định và đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với phát triển bền vững và hiệu quả như đã chọn, tập trung vào tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các TCTD và tái cơ cấu DNNN. Đó cũng là hướng đi đúng với xu thế của các nền kinh tế trên thế giới.