Lương ba cọc ba đồng và tăng trưởng thấp

Lương “ba cọc ba đồng” và tăng trưởng thấp

Theo Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội, Việt Nam chỉ có khoảng 17% lao động có bằng cấp.

Tuy nhiên, một phần lớn nguồn lực lao động chất lượng cao này đã chạy vào khu vực Nhà nước; nhưng không được sử dụng hiệu quả trong phát triển kinh tế. Ngược lại, chính họ đang sử dụng chất xám vào việc “tính kế” tư lợi.

Thích là công chức Nhà nước

Ông trưởng tộc là sĩ quan quân đội về hưu nằng nặc mời cuối tuần về quê ăn khao đứa con gái mới xin được việc làm ở cơ quan Nhà nước. “Đời sống bấp bênh, vào cơ quan Nhà nước lương “ba cọc ba đồng” nhưng vẫn ổn định hơn”, ông giải thích như vậy. Cũng bởi sau vài năm tốt nghiệp đại học và vào làm việc tạm ở một siêu thị tại Hà Nội, cô con gái của ông vẫn luôn phải nhận trợ cấp thêm từ gia đình như thời còn đi học. Tương lai tăng thu nhập cũng rất mù mịt.

Nếu như giai đoạn trước năm 2006, khi nền kinh tế còn chưa hội nhập sâu với thế giới bằng việc gia nhập WTO, các bậc phụ huynh còn ít nhiều có quan niệm “xấu” về chuyện làm việc trong các DN tư nhân. Họ có xu hướng thích cho con, em mình làm việc trong khu vực Nhà nước để có đời sống ổn định. Thì 5 năm sau đó, sự khác biệt trong quan niệm xã hội về vị trí làm việc trong khu vực Nhà nước hay tư nhân đã không còn.

Nhưng gần đây, một bộ phận trong xã hội lại đang trở lại với quan điểm “trọng quốc doanh” hơn, mà trường hợp kể trên là một điển hình. Nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn hiện nay, quan niệm như gia đình nọ không phải là hiếm gặp.

Và những người trẻ cũng không lấy đó làm phiền muộn. Hàng chồng hồ sơ được nộp khi cơ quan Nhà nước tuyển dụng, hay các cuộc thi tuyển đầu vào có tỷ lệ “một chọi vài chục” cũng phần nào cho thấy điều này.

Dường như, cũng có phần do sức cạnh tranh yếu của DN trong nước thể hiện rõ hơn sau giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO, khiến cho chỗ làm việc và thu nhập tại khu vực tư nhân trở nên không hấp dẫn. Hệ quả là một bộ phận lao động “chạy” vào khu vực Nhà nước, chấp nhận lương thấp nhưng độ ổn định cao và... “nhàn” hơn.

Diễn biến tư tưởng trên thậm chí thể hiện trên con số vĩ mô. “Xét về cơ cấu chi ngân sách Nhà nước, trong ba khoản chi lớn là chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi trả nợ viện trợ thì chi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi ngân sách Nhà nước và có xu hướng tăng lên qua các năm...”, TS. Vũ Đình Ánh (Bộ Tài chính) cho hay.

Số liệu của Bộ Tài chính ghi nhận, chi thường xuyên giai đoạn 2006 - 2011 vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi ngân sách Nhà nước, với khoảng 50 - 60%. Nhưng riêng năm 2011, con số này lại vọt lên đến 73%. Tất nhiên, sự thay đổi kể trên do nhiều nguyên nhân, như tăng lương, hay chuyển mục chi trả nợ lãi vào chi thường xuyên vào năm 2011... Nhưng, lao động tại khu vực công tăng lên là có thật.

Theo số liệu từ cuộc tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012, do Tổng cục Thống kê công bố, số lao động thuộc cơ quan hành chính vào năm 2012 là xấp xỉ 1 triệu người, tăng 24,3% so với năm 2007.

Nếu tính thêm cả các cơ quan sự nghiệp, bao gồm y tế, giáo dục, tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội, đơn vị kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp (như điểm bưu điện, văn hóa xã...) thì tổng số lên tới hơn 3,4 triệu người, tăng 20,6% trong cùng so sánh như trên. Còn nếu tính về số đơn vị hành chính sự nghiệp thì cũng tăng xấp xỉ 6%, lên mức gần 147 nghìn đơn vị.

Kết quả trên, thể hiện vào xu hướng chuyển dịch của cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế, cho thấy lao động không được chuyển mạnh sang khu vực kinh tế hiệu quả hơn là tư nhân. “Việc tinh giản biên chế trong khu vực Nhà nước còn nhiều vấn đề”, bà Nguyễn Thị Lan Hương - Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) bình luận.

Theo dẫn chứng số liệu của chuyên gia này, giai đoạn sau hội nhập WTO, lao động làm việc trong khu vực Nhà nước vẫn tăng cả về số lượng lẫn tỷ trọng. Cụ thể là mỗi năm tăng khoảng 276 nghìn người, hay tốc độ tăng 4%/năm.

Vì vậy, tỷ trọng lao động làm việc tại khu vực Nhà nước vào năm 2002 là 10,2% tổng số lao động trong nền kinh tế, thì đến 2007 là 9,3%, nhưng vào năm 2011 lại chiếm 10,6%. Trong khi đó, khu vực tư nhân chỉ thu hút mạnh lao động trong giai đoạn 2002 - 2006, trong khi giai đoạn sau có biểu hiện chững lại. Cụ thể khu vực tư nhân chiếm 8,1% số lao động vào năm 2006, nhưng đến 2011 vẫn giữ ở mức 8,2% (không kể khu vực kinh doanh cá thể chiếm khoảng 3/4 tổng số lao động, theo Viện Khoa học lao động và xã hội).

Hệ quả tăng trưởng thấp

Nhưng trong một xã hội luôn vận động, các công chức chắc hẳn không chấp nhận cảnh thu nhập thấp, dù lương “ba cọc ba đồng”. Việc các công bộc của dân “làm mình làm mẩy”, gây khó dễ với DN, người dân không còn là chuyện hiếm. Theo báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012, nếu như tham nhũng vặt đã giảm đi, nhưng tham nhũng ở quy mô lớn lại gia tăng, 42% DN cho biết đã phải trả hoa hồng cho cán bộ liên quan để có được hợp đồng với cơ quan Nhà nước.

Từ cơ chế xin - cho vẫn còn rơi rớt, báo cáo PCI bình luận rằng, chính quyền địa phương có xu hướng dành nhiều ưu đãi cho DN thân quen hơn là cho nhà đầu tư có năng lực kinh doanh giỏi. Vì lẽ này, nhà đầu tư phải đầu tư thời gian và nguồn lực vào việc xây dựng phát triển các mối quan hệ trong khi có thể sử dụng nguồn lực đó phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc gây khó dễ của các cơ quan quyền lực thậm chí len lỏi vào tận quá trình hoạch định chính sách. Nhiều chuyên gia cảnh báo việc lợi ích nhóm được “cài cắm” trong các văn bản quy phạm pháp luật. Hay, kết quả thu gọn giấy phép con từ Luật DN, sau này đã không còn. Nhiều loại giấy phép con “tái xuất” và được ví như “đầu Phạm Nhan”, chặt rồi lại mọc.

Ở điều kiện ấy, lao động chạy từ khu vực tư sang Nhà nước thể hiện sự dịch chuyển từ nơi luôn phải đi xin (xin dự án, xin cấp phép nhưng chịu chi phí bôi trơn), sang bên cho (cho cơ chế, cho chủ trương) cũng là điều dễ hiểu.

“Về tiền lương, chúng tôi rất ngạc nhiên khi nền kinh tế tăng trưởng thấp, năng suất lao động tăng thấp nhưng tiền lương tăng cao. Trong khi đúng ra, tăng lương chỉ được bằng 70% mức tăng năng suất vì phải tái đầu tư vào sản xuất”, bà Hương cho biết.

Cũng theo bà Hương, Việt Nam chỉ có khoảng 17% lao động có bằng cấp. Tuy nhiên, một phần lớn nguồn lực lao động chất lượng cao này đã chạy vào khu vực Nhà nước; nhưng không được sử dụng hiệu quả trong phát triển kinh tế. Ngược lại, chính họ đang sử dụng chất xám vào việc “tính kế” tư lợi. Năng suất lao động của nền kinh tế rất thấp là hệ quả buồn ở giai đoạn này.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năng suất lao động ở Việt Nam tăng chậm, giai đoạn 5 năm sau gia nhập WTO lại tăng thấp hơn nhiều so với 5 năm trước đó (3,4% so với 5% hàng năm). So với các nước trên thế giới, năng suất lao động của Việt Nam ở mức rất thấp (năm 2010 chỉ đạt gần 5,9 nghìn USD), bằng 13,2% của Nhật Bản, 23,3% của Malaysia, 12% của Singapore, 13,3% của Hàn Quốc, 46,5% của Trung Quốc, 37% của Thái Lan và 69,9% của Philippines.

Báo cáo đánh giá kinh tế - xã hội sau 5 năm gia nhập WTO của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận, kết quả hoạt động của nền kinh tế giai đoạn 5 năm sau WTO không chỉ kém về tăng trưởng mà chất lượng tăng trưởng cũng giảm sút so với giai đoạn trước gia nhập WTO.

Cụ thể là trong giai đoạn 2007 - 2010, hiệu quả tăng trưởng kinh tế suy giảm mạnh, khi yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) chỉ đóng góp 0,4 điểm phần trăm cho tăng trưởng, so với con số 2,6 điểm phần trăm bình quân hàng năm trong giai đoạn 5 năm trước gia nhập WTO. Riêng năm 2009 và 2010, TFP đóng góp âm cho tăng trưởng (-0,1 và -2 điểm phần trăm).

“Tăng năng suất lao động là vấn đề cần quan tâm đặc biệt nếu Việt Nam muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cảnh báo.

Ở góc độ xã hội, bà Hương cho rằng, việc nói thừa thầy thiếu thợ là quan điểm không đúng. “Chúng ta cứ coi lao động kỹ thuật là thợ thì cứ phải ngồi bàn giấy mới làm thầy. Cho nên, thiếu lao động có trình độ là một điểm nghẽn tắc của kinh tế Việt Nam lâu nay”, bà nói.

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây