Tăng sản xuất nội địa để giảm nhập siêu

Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc trong tháng 3/2010 đạt 61,7 triệu USD, tăng 38,5% so với tháng trước.

Năm 2010, kinh tế vừa ra khỏi suy giảm đã gặp ngay thách thức lạm phát, nhập siêu. Giải bài toán này trong thời gian tới như thế nào? Chúng tôi xin giới thiệu góc nhìn của TS Nguyễn Đức Thành - giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (ĐH Quốc gia Hà Nội).

Không ai phủ nhận Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng tốt nhưng thực tế khi chúng ta phát triển, đặc biệt khi thị trường càng phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu, những bất ổn của nền kinh tế càng phát sinh.

  Không nên “đi trên dây”

 Gần đây, có quan chức đã nói chúng ta đang phải đi trên dây do phải giữ cân bằng giữa một bên là tăng trưởng và một bên là giữ các chỉ tiêu nhập siêu, lạm phát. Theo tôi, không nên đi trên dây kiểu ấy vì sẽ rất khó đi lâu, đi đúng hướng được.

 Chúng tôi đã công bố trong báo cáo kinh tế thường niên Việt Nam 2010 rằng, một trong những điểm cần thay đổi là Việt Nam có hơi nhiều các chỉ tiêu, mục tiêu. Phải nghiêm túc nhìn nhận với số lượng công cụ và dư địa chính sách có hạn, việc đặt ra nhiều mục tiêu cùng lúc có thể rơi vào tình trạng chính các mục tiêu đó mâu thuẫn nhau.

 Chẳng hạn muốn tăng trưởng cao, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến trên 40% GDP trong khi chỉ số hiệu quả đầu tư thấp, tích lũy nội bộ nền kinh tế thấp, thì lạm phát và nhập siêu khó mà thấp được. Do đó, theo tôi, Việt Nam nên thu hẹp số lượng chỉ tiêu, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Trên thực tế, khi thực hiện tốt một số chỉ tiêu cơ bản, tự các chỉ tiêu quan trọng khác sẽ đạt được.

 Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ chỉ nên nêu hai mục tiêu: chống lạm phát và thâm hụt ngân sách là đủ. Nếu cùng lúc đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao lại muốn lạm phát thấp, trong điều kiện của Việt Nam, tôi e là gây khó cho chính công việc điều hành.

 Đến nay, phải khẳng định Việt Nam đang đứng trước nguy cơ lạm phát cao trở lại nhưng lại đang có những nỗ lực giảm lãi suất. Việt Nam chưa thoát hẳn khỏi suy giảm kinh tế nên cần có chính sách lãi suất mềm dẻo. Tuy nhiên, mục tiêu phục vụ tăng trưởng hay ưu tiên chống lạm phát hàng đầu phải làm rõ vì nó quyết định mức lãi suất thế nào là phù hợp.

 Nền kinh tế luôn cần vốn nhưng không nên tăng vốn bằng mọi giá. Việc vay nợ nước ngoài thường xuyên và quy mô ngày càng tăng của Việt Nam cũng có thể dẫn đến rủi ro rất cao.

 Nhiều nước nợ nước ngoài đến 70% GDP. Việt Nam nợ nước ngoài vẫn dưới 50% GDP nhưng không thể nói không có gì đáng lo. Các nước vay với thời hạn và lãi suất khác ta, khả năng tăng thuế, huy động vốn của họ cũng hơn ta. Thêm vào đó, chúng ta mới ở thời kỳ đầu của quá trình phát triển, cần dành một dư địa lớn cho lĩnh vực này để còn cho các thế hệ tương lai có cơ hội phát triển.

  Tập trung khu vực kinh tế tư nhân

 Để tăng trưởng mà vẫn tránh được những bất ổn kinh tế như lạm phát và nhập siêu, Việt Nam cần tiếp tục cải cách. Ngoài thủ tục hành chính, cần thay đổi cả cách thức, thói quen điều hành nền kinh tế, cách tạo và phát triển các nguồn lực. Nên tách khu vực kinh tế nhà nước ra khỏi các ưu tiên, mục tiêu làm chính sách kinh tế của Chính phủ.

 Cần giảm dần sự phụ thuộc về tài chính của Chính phủ vào các tập đoàn, hướng tới duy trì nguồn thu chủ yếu qua thuế thu nhập từ các doanh nghiệp nói chung.

 Khu vực kinh tế tư nhân dù không được nhiều ưu đãi như các doanh nghiệp nhà nước nhưng đóng góp lại ngày càng áp đảo. Vì vậy, cần tập trung để phát triển khu vực có tính cơ năng của nền kinh tế trong tương lai này. Với hiệu quả tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng cao nhưng khu vực tư nhân nhiều lĩnh vực hiện vẫn bị lấn át thông qua nhiều hình thức can thiệp.

 Để giảm nhập siêu, không cách nào khác là phải tăng cường khả năng sản xuất trong nước. Việt Nam đã có những chính sách ưu đãi phát triển các khu công nghiệp. Tuy nhiên, chúng tôi đã khảo sát các khu công nghiệp - những “quả đấm” của nền kinh tế Việt Nam - thì thấy khả năng phát triển của các khu công nghiệp này cũng đã đến giới hạn trong điều kiện chính sách hiện nay.

 Các con số thống kê đang cho thấy giá trị xuất khẩu trong khu công nghiệp tăng nhưng giá trị nhập khẩu lại tăng nhanh hơn. Nhân công trong khu công nghiệp cũng đã giảm dần. Hiện trạng khu công nghiệp Việt Nam hiện nay chúng tôi so sánh và nhận thấy rất giống Malaysia những năm 1980. Nếu không thay đổi, thời gian tới Việt Nam có thể sẽ phải chứng kiến các nhà đầu tư rời Việt Nam sang nước khác do ưu đãi thuế, đất đai, nhân lực giá rẻ không còn...

 Để tránh tình trạng lúc nào cơ hội đến cũng thấy khó khăn, dư địa các chính sách ít do bất ổn kinh tế, chúng ta cần thật sự và nhất quán trong ưu tiên ổn định vĩ mô. Không nên cứ nói chống lạm phát, kiềm chế tín dụng nhưng sau đó lại thấy chỉ số tăng trưởng tín dụng cứ cao như một sự đã rồi. Đã đến lúc nên đưa ra mục tiêu số một là ổn định vĩ mô và đánh giá hiệu quả chính sách dựa trên mục tiêu đó.

 Đã đến lúc Việt Nam nên tìm cách tăng con số tăng trưởng bằng chất lượng đầu tư và năng suất lao động thay vì chỉ tăng vốn (trong khi hiệu quả không được cải thiện). Chỉ số ICOR (hiệu quả đầu tư trên vốn) của Việt Nam đã trên 8 - thuộc diện cao bậc nhất thế giới, nên dù khó cũng phải bắt đầu cải thiện vì nó liên quan đến những khoản vay phải trả và nguồn vật lực đóng góp của người dân.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây