Nhà tạo lập được xem là bộ phận có thể tạo ra sự cân bằng khi thị trường rơi vào trạng thái quá bán hoặc quá mua.
Định nghĩa và kỳ vọng là vậy, nhưng market maker thực thụ đang ngày càng ít ỏi, nhất là trên TTCK. Nếu có xuất hiện, market maker cũng chỉ tồn tại một cách tương đối, trong một thời điểm nào đó.
Ông Hoàng Thạch Lân, Giám đốc Môi giới CTCK MHBs, chỉ ra một thực tế: ngay cả những TTCK hàng đầu thế giới cũng hiếm có thị trường nào tồn tại cơ chế để market maker hoạt động và phát huy hiệu quả. Rõ nét nhất về cơ chế này có thể kể đến TTCK Hoa Kỳ, tại sàn NYSE nhưng theo thời gian cũng đã có nhiều thay đổi.
Tự cân bằng
NYSE là sàn chứng khoán hàng đầu thế giới, tính thanh khoản luôn được duy trì ở mức cao, nên trách nhiệm bảo đảm thanh khoản của market maker cũng không quá lớn. NYSE có một bộ phận gọi là specialist, bộ phận này sẽ đứng ra làm đối ứng nếu các lệnh mua/bán trên thị trường không khớp, tức là không có người bán/mua.
Các specialist này thường là các CTCK và do thị trường ít khi mất thanh khoản nên cũng không cần có quy mô gì quá lớn. Chưa kể, sàn NYSE cũng cho phép bán khống nên giả sử nếu có lệnh mua mà không có lệnh bán thì các specialist cũng có thể bán khống để cân bằng và thậm chí có thể mua trả hàng (cover) sau vài phút.
Thực tế, khả năng xuất hiện một hoặc một vài market maker đủ sức bao trùm cả thị trường hiện nay là không hề đơn giản khi quy mô của thị trường vẫn ngày một tăng lên. Chưa kể, việc các market maker liên kết lại với nhau cũng rất khó, vì càng nhiều thành phần thì rủi ro về xung đột lợi ích cũng càng lớn. Và, như trường hợp của sàn NYSE, theo thời gian, thị trường sẽ hướng đến sự cân bằng, tự thân cân bằng thì không cần quá nhiều đến market maker.
Trở lại với TTCK trong nước, hiện giờ vẫn đang được xem là thị trường mới nổi, yếu tố ổn định chưa cao thì liệu có cần và có thể xuất hiện các market maker được hay không? Nếu phân tích kỹ thì thị trường vẫn có những market maker, đó chính là các quỹ đầu tư, thậm chí là một vài CTCK, trong những đợt thị trường điều chỉnh giảm, vẫn ra tay mua vào. Nếu không có bộ phận này, nói theo kiểu "cả thị trường hoảng loạn, nhà đầu tư bán tháo" thì có lẽ giá trị giao dịch bằng 0. Đằng này vẫn có người mua, mặc dù không nhiều hoặc chưa đủ sức lật ngược tình thế cũng có nghĩa là vai trò tạo lập, góp phần cân bằng cung cầu vẫn xuất hiện.
Ở đây, không thể yêu cầu hoặc kỳ vọng các tổ chức vừa nêu sẽ ra tay mạnh hơn, mua để giữ thị trường không giảm vì điều này là không thể. Yếu tố tâm lý vẫn chi phối đậm nét trên thị trường, khi đã hoảng loạn là hoảng loạn thái quá, bán ra ào ạt thì rất khó để chống đỡ. Và như vậy, có khi một vài CTCK lớn hay quỹ đầu tư, dốc toàn lực mua vào một phiên thì cũng chưa chắc đảo ngược được đà giảm.
Nếu hôm sau thị trường lại giảm tiếp thì chính các market maker này phải đối diện với thua lỗ và đây là điều chẳng ai muốn. Chưa kể, thị trường giảm sâu, cũng là cơ hội cho bên mua, cho những dòng tiền mới. Nói tóm lại, chúng ta vẫn có những market maker, nhưng có thể nói các market maker này hoạt động một cách "âm thầm" và nương theo xu hướng của thị trường.
Bài toán khó
Trở lại với câu chuyện lợi ích, thực ra ngoài trách nhiệm thì market maker nếu muốn phát huy chức năng của mình cũng phải thấy được những lợi ích đi kèm. Những tổ chức đầu tư, trong đó có các quỹ, CTCK thấy rằng thị trường tăng giảm mạnh, vẫn có lợi cho mình, thì liệu có cần phải tiến đến ổn định hay không? Quan điểm này không phải dễ thay đổi trong ngắn hạn dù rằng ai cũng có thể dễ dàng nói, thị trường biến động mạnh, thất thường đem lại nhiều rủi ro cho cả nhà đầu tư và cho cả những tổ chức nhiều tiền. Về mặt thời gian, ngoài chuyện tiền, sẽ có những động thái khác cũng góp phần củng cố chức năng tạo lập.
Ví dụ: Đột nhiên xuất hiện một tin đồn khiến cho cổ phiếu A giảm sàn liên tục, CTCK B biết rằng đây là tin "đồn nhảm" và sẽ có 2 cách ứng xử. Cách thứ nhất là ra tay gom mua cổ phiếu dần dần, đợi tới khi nhà đầu tư hết hoảng loạn và giá cổ phiếu có thể từ từ tăng lại, B sẽ đem cổ phiếu của mình bán ra. Hoặc cách thứ hai, B có thể liên hệ hỗ trợ cho A công bố thông tin đến các cơ quan quản lý và nhà đầu tư để ổn định.
Hai cách xử lý này đều ít nhiều có dáng dấp tạo lập, nhưng tạo lập thế nào để hướng đến sự ổn định thì có lẽ cách sau ổn hơn. Nếu trường hợp B chọn cách thứ nhất, mua vào, có thể hết tin đồn, cổ phiếu không giảm nữa, nhưng sau đó lại xuất hiện thêm tin đồn, giá cổ phiếu A tiếp tục giảm, như vậy B sẽ thua lỗ.
Như vậy, trở thành một market maker không chỉ cần phải có tiền mà còn phải có những giải pháp, công cụ khác bên cạnh một tư duy xem trọng sự ổn định của thị trường.